Tình hình thị trường trái phiếu tháng 11/2021

This page has not been translated yet; content is shown in Vietnamese.

Trong tháng 11, KBNN tổ chức 16 đợt đấu thầu TPCP với tổng giá trị gọi thầu (GTGT) đạt 40,500 tỷ đồng, tỷ lệ trúng thầu đạt 84.3%.

Trong tháng 11, KBNN tổ chức 16 đợt đấu thầu TPCP với tổng GTGT đạt 40,500 tỷ đồng, tổng giá trị đặt thầu là 103,515 tỷ đồng, trong đó giá trị trúng thầu đạt 34,133 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ trúng thầu đạt 84.3%. Trong đó, 2 kỳ hạn có khối lượng gọi thầu cao nhất là kỳ hạn 10 năm và kỳ hạn 15 năm (lần lượt là 15,500 và 13,500 tỷ đồng), tỷ lệ trúng thầu lần lượt đạt 90.5% (kỳ hạn 10 năm) và 92.7% (kỳ hạn 15 năm). Tỷ lệ trúng thầu đối với kỳ hạn 5 năm tăng 16% so với tháng trước. Lãi suất trúng thầu trung bình trong tháng ở hầu hết các kỳ hạn đều giảm so với tháng trước.

Trong Q4/2021, KBNN dự kiến phát hành 135,000 tỷ đồng TPCP bao gồm các kỳ hạn 5 năm (15,000 tỷ đồng), 7 năm (5,000 tỷ đồng), 10 năm (37,000 tỷ đồng), 15 năm (50,000 tỷ đồng), 20 năm (13,000 tỷ đồng) và 30 năm (15,000 tỷ đồng). Tính đến hết tháng 11, KBNN đã phát hành tổng cộng 50,279 tỷ đồng TPCP trong Quý, tương ứng 37% Kế hoạch Quý 4. Tính từ đầu năm đến hết tháng 11/2021, kết quả phát hành TPCP đạt 287,993 tỷ đồng, tương đương 77% kế hoạch cả năm sau điều chỉnh. Trong tháng 12/2021, sẽ có khoảng 4,600 tỷ đồng trái phiếu đến hạn, khoảng 2.4% giá trị trái phiếu sẽ đáo hạn cả năm.

Trong tháng 11, Ngân hàng Phát Triển Việt Nam thực hiện 4 đợt đấu thầu TPCPBL, tổng giá trị gọi thầu là 3,000 tỷ đồng, trong đó tỷ lệ trúng thầu đạt 66.6%.

Trong tháng 11, Ngân hàng Phát Triển Việt Nam đã tiến hành gọi thầu 3,000 tỷ đồng TPCPBL qua 4 phiên đấu thầu, tỷ lệ đặt thầu/gọi thầu đạt 495.3%. Trong đó, khối lượng trúng thầu đạt 2,000 tỷ đồng (tương đương tỷ lệ trúng thầu 66.6%) ở 3 kỳ hạn 5 năm (500 tỷ đồng), 7 năm (500 tỷ đồng) và 10 năm (1,000 tỷ đồng). Tỷ lệ trúng thầu kỳ hạn 5 năm, 7 năm và 10 năm đều đạt 100%, riêng kỳ hạn 15 năm chưa được đấu thầu thành công. Lãi suất trúng thầu ở 3 kỳ hạn 5 năm, 7 năm và 10 năm lần lượt là 1.12%, 1.5 và 2.35%, cao hơn lần lượt 0.34%, 0.4% và 0.26% so với LSTT TPCP cùng kỳ hạn.

Giá trị giao dịch thông thường (Outright) và giao dịch mua bán lại (Repo) lần lượt đạt 181,778 tỷ đồng (tăng 16.6% so với tháng trước) và 100,021 tỷ đồng (tăng 57.5% so với tháng trước).

Trên thị trường thứ cấp, giá trị giao dịch Outright và Repo trung bình ngày lần lượt tăng lên mức 8,263 tỷ đồng/ngày (tăng 11% so với tháng trước) và 4,546 tỷ đồng/ngày (tăng 50% so với tháng trước). So với cùng kỳ năm trước, KLGD Outright tháng 11 tăng 10.9% và KLGD Repo tăng 31.9%. Trong tháng, kỳ hạn 10 năm và 15 năm là những kỳ hạn được giao dịch nhiều nhất. Trong tháng 11/2021, nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng tổng cộng 373 tỷ đồng, như vậy, tính từ đầu năm đến nay, nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng 10,828 tỷ đồng.

So với tháng trước, Lãi suất giao dịch TPCP (theo phòng chào giá VBMA) giảm nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn.

Lãi suất giao dịch TPCP giảm nhẹ 4-12 điểm ở các kỳ hạn từ 1 năm đến 30 năm so với trung bình tháng trước. So với mặt bằng lãi suất năm ngoái, lãi suất giao dịch các kỳ hạn từ 5 năm đến 30 năm hiện tại thấp hơn từ 26 - 50 điểm, trong khi lãi suất các kỳ hạn từ 1-3 năm cao hơn từ 25-30 điểm. Trong tháng vừa qua,đường cong lãi suất đang có xu hướng dốc hơn (tăng LS dài hạn, giảm LS ngắn hạn). Trong tháng 11, TPCPkỳ hạn 10 năm và 5 năm được giao dịch nhiều nhất với khối lượng giao dịch lần lượt là 7,100 tỷ đồng(chiếm 41%) và 3,250 tỷ đồng (chiếm 20%).

Trong T11/2021 có tổng cộng 40 đợt phát hành TPDN riêng lẻ trong nước với tổng giá trị phát hành 18,276 tỷ đồng và 1 đợt phát hành ra công chúng của CTCP Vinhomes giá trị 2,090 tỷ đồng. Tổng giá trị phát hành trong tháng là 20,366 tỷ đồng.

Theo dữ liệu công bố đến ngày 01/12/2021 của HNX và SSC, có tổng cộng 40 đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ trong tháng 11 và 1 đợt phát hành ra công chúng với tổng giá trị phát hành là 20,366 tỷ đồng.

Trong tháng 11/2021, Bất động sản là nhóm ngành dẫn đầu về tổng giá trị phát hành với 8,476 tỷ đồng, chiếm 42% tổng giá trị phát hành của tháng và trong đó có khoảng 59% trái phiếu phát hành bảo đảm bằng cổ phiếu hoặc không có tài sản bảo đảm. Trong nhóm Bất động sản, đợt phát hành có giá trị lớn nhất đến từ CTCP Vinhomes (2,090 tỷ đồng) với trái phiếu phát hành ra công chúng có kỳ hạn 5 năm, lãi suất 9.2%/năm cho 4 kỳ đầu tiên và thả nổi ở các kỳ sau với lãi suất tham chiếu là lãi suất tiết kiệm VND 12T (VCB, AGRI, VIETIN, BIDV).

Ngân hàng là nhóm ngành xếp thứ 2 về tổng giá trị phát hành 7,950 tỷ đồng, chiếm 39% tổng giá trị phát hành trong tháng. NH TMCP Đông Nam Á dẫn đầu với 5 đợt phát hành trái phiếu có tổng giá trị 2,000 tỷ đồng, lãi suất 3.7%/năm, kỳ hạn 3 năm. NH TMCP Tiên Phong cũng có giá trị phát hành tương tự với 2 đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ trị giá 2,000 tỷ đồng, lãi suất 3.2%/năm, kỳ hạn 3 năm để phát triển hoạt động tín dụng.

Trong 11 tháng đầu năm có tổng cộng 826 đợt phát hành TPDN trong nước với tổng giá trị đạt 495 nghìn tỷ đồng, trong đó có 803 đợt phát hành riêng lẻ và 23 đợt phát hành ra công chúng, 4 đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế tổng giá trị 1.425 tỷ USD.

Trong 11 tháng đầu năm có tổng cộng 826 đợt phát hành TPDN trong nước, trong đó có 803 đợt phát hành riêng lẻ với tổng giá trị 468.85 nghìn tỷ đồng (chiếm 95% tổng GTPH), 23 đợt phát hành ra công chúng giá trị 26.34 nghìn tỷ (chiếm 5% (lấy số thập phân lẻ) tổng GTPH) và 4 đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế tổng giá trị 1.425 tỷ USD.

Trong 11 tháng đầu năm, nhóm bất động sản hiện đang dẫn đầu với tổng giá trị phát hành đạt 187.16 nghìn tỷ đồng, chiếm 38%. Trong đó có khoảng có khoảng 30% giá trị trái phiếu phát hành không có tài sản bảo đảm hoặc bảo đảm bằng cổ phiếu (tỷ lệ này có xu hướng tăng lên so với tháng trước). Lãi suất phát hành dao động trong khoảng 4.5-13%/năm. Nhóm ngân hàng đứng ở vị trí thứ 2 với tổng khối lượng phát hành 169.6 nghìn tỷ đồng, có 46.5 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 (chiếm 27%), 71% trái phiếu phát hành kỳ hạn ngắn 2-4 năm.

Trong 11 tháng đầu năm, có 4 đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế gồm: Tập đoàn Vingroup (500 triệu USD), trái phiếu xanh của Công ty Cổ phần Bất động sản BIM (200 triệu USD) và trái phiếu chuyển đổi của Novaland (300 triệu USD), trái phiếu bền vững của Vinpearl (425 triệu USD).

More